Hotline: 0985928544
Newvision Law

Newvision law

Luật Hình Sự - Chi tiết tin
Kỹ năng của luật sư trong hoạt động đánh giá, nghiên cứu và sử dụng
10/23/2014 8:33:06 AM

Theo quy định của pháp luật tố tụng...

                                     Kỹ năng của luật sư trong hoạt động đánh giá, nghiên cứu và sử dụng
 

Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, Luật sư được tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự khác trong vụ án. Khi tham gia tố tụng Luật sư được tham gia với hai mục đích là bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của bị can, bị cáo (thân chủ) và góp phần làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án bảo đảmcho công tác xét xử được khách quan, đúng pháp luật. Khi tham gia trong tố tụng dù với vai trò làngười bào chữa cho của bị can, bị cáo hay người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bịcáo, lợi ích hợp pháp của đương sự… thì Luật sư cùng với thân chủ của mình luôn trở thành một bên trong tố tụng. Do đó khi đã trở thành một bên trong tố tụng thì Luật sư phải sử dụng tổng hợpnhững kinh nghiệm nghề nghiệp và kiến thức của mình trong đó có kiến thức về chứng cứ nhằm bác lại quan điểm đối lập, bảo vệ quan điểm của mình. Chính vì vậy, có thể nói, sự hiểu biết về lýluận chứng cứ và khả năng sử dụng chứng cứ trong tố tụng là những điều kiện quan trọng bảo đảmsự thành công của Luật sư trong tranh tụng.Ở đề tài tiểu luận này, chúng ta cùng tìm hiểu các kỹ năng của luật sư trong hoạt động đánh giá vànghiên cứu chứng cứ.

Về khái niệm chứng cứ

 Như thế nào gọi là chứng cứ trong một vụ án hình sự? Chúng ta thường thấy rằng, sau khi có mộtvụ án hình sự xảy ra, các dấu vết của vụ án vẫn còn lưu lại đâu đó và được thể hiện dưới nhữnghình thức khác nhau. Khi các dấu vết ấy thể hiện ý nghĩa quan trọng nhằm xác định có hay khôngcó hành vi phạm tội trong vụ án. Thì từ các dấu vết đó và các điều kiện, căn cứ khác, các cơ quantiến hành tố tụng sẽ khởi tố, truy tố hay xét xử một người đã có hành vi phạm tội. Những dấu vếtnhư vậy trong vụ án hình sự được gọi là chứng cứ.Theo quy định tại khoản 1, Điều 64, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì:“Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạmtội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyếtđúng đắn vụ án.”Chứng cứ được xác định bằng:- Vật chứng (Theo Điều 74 BLTTHS thì, “Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và vật kháccó giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội”);

- Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyềnlợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;

- Kết luận giám định

Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác. Như vậy, việc luật sư nhận diện trước tiên được chứng cứ bao gồm những nội dung gì theo quyđịnh của pháp luật như trên sẽ giúp luật sư dành sự tập trung của mình vào những yếu tố được xácđịnh là chứng cứ nói trên, nhằm tiến hành đánh giá và nghiên cứu có kết quả cao nhất.Vậy, chứng cứ mang những đặc điểm gì? Trả lời câu hỏi này sẽ giúp luật sư nắm bắt thật chắc cácđặc trưng cần thiết khi tiếp cận chứng cứ của một vụ án hình sự, bởi nếu không nắm chắc các đặctrưng của chúng, nhiều khi không thể quyết định việc đánh giá chúng ra sao và có thể tốn thời gian,công sức và việc đánh giá những yếu tố có trong vụ án, nhưng lại không liên quan đến vụ án, hoặckhông phục vụ cho mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của than chủ mình.Chứng cứ có các đặc điểm sau:- Tính khách quan: Đây là đặc trưng quan trọng khi tiếp cận, tìm hiểu và đánh giá chứng cứ buộcluật sư phải lưu ý kỹ. Tính khách quan thể hiện những gì có thật và phản ánh trung thực những tìnhtiết của vụ án hình sự đã xảy ra. Nếu không đảm bảo tính khách quan, những yếu tố được gọi tên làchứng cứ trong vụ án sẽ làm sai lệch tính chất của vụ án. Sự đảm bảo tính khách quan của chứngcứ trong vụ án sẽ giúp các cơ quan tiến hành tố tụng đưa ra những quyết định đúng, không oan sai;đồng thời cũng qua đó, luật sư có cơ sở để bảo vệ cho than chủ của mình theo đúng tinh thần phápluật.- Tính liên quan: Đây là đặc điểm xác định nguồn gốc của việc hình thành chứng cứ, cũng như xácđịnh có thực về mối quan hệ giữa vụ án với các yếu tố được gọi là chứng cứ. Tính liên quan củachứng cứ thể hiện ở chỗ, nó phải có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với vụ án hình sự. Mốiquan hệ nội tại, có tính nhân quả, nghĩa là chứng cứ phải là kết quả của một loại hành vi hoặc hànhđộng hoặc một quan hệ nhất định, ngược lại, hành vi, hành động hoặc quan hệ đó là nguyên nhândẫn đến việc hình thành các chứng cứ này. Chỉ khi có mối quan hệ nhân quả ấy diễn ra trên thực tế,chứng cứ mới đảm bảo cơ sở để xác định tính chất và nội dung xác thực của vụ án, và nó thực sựlà cơ sở để đánh giá nhằm phục vụ việc luận tội, hay gỡ tội.

-Tính hợp pháp: Có trường hợp chứng cứ được đưa ra nhằm kết luận tính chất và nội dung của vụán là không hợp phải, đó là chứng cứ do nhầm lẫn, do sai lầm trong việc cung cấp, thu thập, nghiêncứu hay bảo quản chứng cứ. Cũng có những lúc, chứng cứ được đưa ra để chứng minh lại là chứngcứ do giả mạo. Những chứng cứ đó là những chứng cứ không hợp pháp. Chỉ khi chứng cứ được bảo đảm tính hợp pháp thì nó mới phản ánh đầy đủ mối quan hệ nội tại, có thật, liên quan với vụán. Do đó, tất cả những gì có thật phải được cung cấp, thu thập, nghiên cứu, bảo quản theo mộttrình tự do luật định. Đây là trình tự nhằm bảo đảm giá trị chứng minh của chứng cứ. Thực tế, tínhhợp pháp của chứng cứ được xác định thông qua hoạt động chứng minh được toà án và tất cảngười tham gia tố tụng thực hiện và tuân thủ.Luật sư cũng cần xác định rõ đâu là chứng cứ buộc tội hay là chứng cứ để gỡ tội; đâu là chức cứtrực tiếp hay gián tiếp; đâu là chứng cứ gốc và chứng cứ sao chép lại, thuật lại nhằm nắm bắt cáckhía cạnh khác nhau của chứng cứ một cách toàn diện

Về đánh giá và sử dựng chứng cứ

Trong khi hành nghề, luật sư do đặc thù nghề nghiệp của mình nên thường gặp những bất lợi hơncác cơ quan tiến hành tố tụng trong việc tiếp cận, phát hiện và thu thập các chứng cứ liên quan để phục vụ cho quá trình bào chữa một vụ án hình sự. Thiết nghĩ, hiện nay nhiều lúc luật sư không thểhiện sự chủ động tìm kiếm, phát hiện và thu thập, xử lý các chứng cứ của một vụ án hình sự, nằm phát huy khả năng chứng minh của chứng cứ trong việc bảo vệ quyền và lợi ích cho khách hàng.Thế nên, có những trường hợp luật sư chỉ đánh giá và nghiên cứu những chứng cứ được các cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp, hoặc chỉ dựa trên những lời khai, lời thuật lại của những người cóliên quan trong vụ án qua đơn thuần là các văn bản được soạn ra trên giấy. Như thế, rõ ràng việcnghiên cứu, đánh giá chứng cứ chưa được toàn diện và trọn vẹn.Điều 11 BLTTHS quy định: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bịtạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này”.Luật quy định như vậy có nghĩa là luật sư (người bào chữa) được tham gia vào quá trình điều tra(từ khi khởi tố bị can), truy tố và xét xử, được đọc các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án màkhách hàng mời luật sư làm người bào chữa. Trong cách thức để luật sư tham gia vào vụ án hìnhsự, họ được trao một số quyền, trong đó có những quyền liên quan đến chứng cứ trong vụ án, như: phát hiện và thu thập chứng cứ; đánh giá chứng cứ; sử dụng chứng cứ.Cụ thể, tại Điều 58 BLTTHS quy định “Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa”, trong đó khoản 2của Điều 58 nếu các quyền:- Thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo,người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bịtạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác;- Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu. Như vậy, luật sư không nên thụ động trong việc dựa vào các tài liệu, chứng cứ sao chụp được củacác cơ quan tiến hành tố tụng để phục vụ cho việc nghiên cứu, đánh giá của mình. Quyền của luậtsư trong việc đánh giá, nghiên cứu chứng cứ cần được phát huy có hiệu quả bằng khả năng vậndụng, nắm bắt và xác định được mục tiêu hướng đến của vụ án để thu thập, phát hiện ra những yếutố nào trong vụ án có thể trở thành chứng cứ quan trọng phục vụ cho việc bào chữa của luật sư đốivới khách hàng.Cần lưu ý thêm, tránh trường hợp luật sư dấn sâu vào việc tìm kiếm chứng cứ phục vụ công việccủa mình mà quên đi nghĩa vụ đối với các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc phát hiện chứng cứ,để xảy đến tình trạng luật sư phạm luật. Tại Điểm a, khoản 3 Điều 58 BLTTHS có quy định, “Tuỳtheo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, thì người bàochữa có trách nhiệm giao cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án”.Khi xác định được việc chủ động tiếp cận, phát hiện và nghiên cứu chứng cứ được rồi, điều tiên quyết luật sư cần nắm vững là định hướng mục đích của việc đánh giá, nghiên cứu chứng cứ cóđược trong vụ án. Do mục đích của luật sư trong quyền đưa ra chứng cứ khác với những cơ quanvà người tiến hành tố tụng, bởi luật sự, trước hết là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ,sau nữa góp phần làm sáng tỏ những tình tiết khác nhau về vụ án. Trong thực tế, cũng có trườnghợp, luật sư không được sử dụng chứng cứ thu thập được, bởi nếu sử dụng chứng cứ đó sẽ làm xấuđi tình trạng của thân chủ.Ví dụ: Luật sư N. P bào chữa cho ông T. N trong một vụ án cướp tiệm vàng, Trước các cơ quantiến hành tố tụng, bị can không nhận tội, nhưng trong quá trình tìm hiểu vụ việc, luật sư N. P pháthiện ra những chứng cứ buộc tội bị can T. N, vì vậy, luật sư N. P không có quyền đưa ra chứng cứđó, bởi như vậy sẽ vi phạm đức đức nghề nghiệp. Trong trường hợp này, luật sư N. P đã lựa chọnviệc từ chối bào chữa tiếp cho bị cáo T. N tại tòa.Bằng cách nắm rõ mục đích hướng đến của một luật sư trong từng vụ án khác nhau, luật sư phân biệt được việc phải tìm ở đâu chứng cứ nhằm hướng mục đích của mình vào việc nghiên cứu, đánhgiá chứng cứ đó tránh bị “vênh”, bị “lệch” khỏi yêu cầu mà khách hàng đặt ra cho luật sư; tuy vậy,như trên đã đề cập, dù cho mục đích hướng tới khách hàng tới đâu thì việc thu thập, phát hiện, đánhgiá, nghiên cứu chứng cứ cũng phải tuân thủ quy định của pháp luật.Thực tế có những trường hợp, chứng cứ mà luật sư thu thập được, về cơ bản là xác định giá trị buộc tội của các chứng cứ mà cơ quan tiến hành tố tụng dùng để chứng minh bị can, bị cáo phạmtội. Để bào chữa có hiệu quả, luật sư phải có ý kiến để phản biện (một phần hoặc toàn bộ) chứngcứ buộc tội đó, có những kiến nghị, đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng ra các quyết định khác nhaunhư điều tra bổ sung, điều tra lại, đình chỉ điều tra, rút cáo trạng, thay đổi tội danh nhẹ hơn, ápdụng hình phạt nhẹ hơn so với đề nghị nêu trong bản luận tội, để hội đồng xét xử cân nhắc khi địnhtội danh, quyết định hình phạt cho bị cáo. Điều này thể hiện rõ mục đích hướng đến của luật sư khihành nghề, đồng thời thể hiện tinh thần, trách nhiệm của mỗi một luật sư đối với khách hàng củamình.Có thể khái quát lại, tuỳ theo khách hàng là ai, bị can, bị cáo hay đương sự, luật sư sẽ có địnhhướng cho việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ khác nhau, nhưng bao giờ, khi đưa rachứng cứ, luật sư cũng phải đảm bảo hướng có lợi nhất cho khách hàng của mình.Đi vào từng giai đoạn cụ thể của quá trình tố tụng của một vụ án hình sự chúng ta có thể nhìn nhậnrõ hơn từng kỹ năng quan trọng mà Luật sư cần thực hiện để mang lại hiệu quả trong công việc củamình. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo phải được tôn trọng và bảo vệ. Bằng hoạt động của mình, Luật sư giúp bị can, bị cáothực hiện tốt hơn nữa quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, nghĩa vụ của họ theo quy định pháp luật, đồng thời giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết và xử lý vụ án đúng người, đúng tội,đúng pháp luật.Cần nhìn nhận rằng, quá trình điều tra vụ án hình sự có những đặc thù riêng so với các hoạt động tốtụng khác, những đặc thù của giai đoạn này có ảnh hưởng, tác động nhất định đến hoạt động bàochữa. So với giai đoạn khác hoạt động bào chữa trong giai đọan này có những đặc điểm riêng, đókhông phải là sự đối sánh chứng cứ trực tiếp giữa bên buộc tội và bên gỡ tội như ở giai đoạn xét xử. Những thông tin, tài liệu chứng cứ làm cơ sở cho việc xác định sự thật của vụ án đối với Luậtsư không nhiều nhưng những thông tin tài liệu, chứng cứ đó lại rất quan trọng đối với việc bảo vệquyền lợi cho bị can. Do vậy Luật sư cần phải biết tập trung thời gian, công sức trí tuệ để nghiêncứu, đánh giá tính hợp pháp của những thông tin, tài liệu, chứng cứ đó. Chỉ khi tập trung, đánh giácó trọng điểm và chính xác những chứng cứ là cơ sở cho việc xác định sự thật vụ án thì kết quả củahoạt động này mới trở nên có ý nghĩa.Theo quy định của Bộ luật TTHS nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan và nhữngngười tiến hành tố tụng, điều này có nghĩa rằng những người nói trên có nghĩa vụ phải đi thu thậpchứng cứ. Điều 19 BLTTHS

. “Bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án” quy định: “Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩavụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đềucó quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dânchủ trước Toà án. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõsự thật khách quan của vụ án.” Quyền bình đẳng về việc đưa ra chứng cứ, yêu cầu tranh luận trướctòa án là một quyền của Luật sư được Bộ luật TTHS 2003 phát triển hơn so với quy định trước đây.Theo đó, Bộ luật TTHS 2003 đã có quy định Luật sư có quyền đưa ra các tài liệu đồ vật yêu cầumà trong giai đoạn điều tra Cơ quan điều tra chưa phát hiện được. Trong trường hợp này Luật sưcó quyền yêu cầu Cơ quan điều tra xem xét nhưng chỉ khi chứng cứ có có lợi cho bị can và khônglàm xấu đi tình trạng của bị can như chứng cứ chứng minh sự vô tội của bị can nếu bị can thực sựvô tội; chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị can không đến mức nguy hiểm như tài liệutrong hồ sơ thể hiện; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can mà Cơ quan điều trachưa thể hiện trong hồ sơ. Giới hạn chứng minh trong vụ án hình sự là phạm vi các tình tiết, cácdấu hiệu cần và đủ phải chứng minh để khẳng định một người phạm tội hay không phạm tội; giớihạn chứng minh một người phạm tội cụ thể nào đó bao giờ cũng rộng hơn giới hạn chứng minhngười đó không phạm tội. Để chứng minh một người phạm tội cơ quan tiến hành tố tụng, người bịhại và luật sư của người bị hại cần phải có đủ các chứng cứ để chứng minh là hành vi phạm tội củangười phạm tội phải có đủ bốn yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm, còn để chứng minh ngườiđó không phạm tội, bị can, bị cáo, người bào chữa cho bị can, bị cáo chỉ cần chứng minh là khôngcó một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm đó. Nói một cách khác, để buộc tội cần phải có nhiềuchứng cứ, còn để gỡ tội có khi chỉ cần một chứng cứ. Và Luật sư, hơn ai hết có điều kiện để vậndụng điều kiện này để đưa ra những yêu cầu có lợi cho than chủ mình, nếu Luật sư nắm đượcnhững chứng cứ thuyết phục.Sử dụng chứng cứ để phục vụ cho công việc là một trong những nhiệm vụ của Luật sư, nếu nhưđánh giá được thực hiện ở tất cả các giai đoạn tố tụng thì việc sử dụng chứng cứ cũng vậy. Trướchết Luật sư sử dụng chứng cứ để làm căn cứ để đề xuất, kiến nghị với Cơ quan điều tra, Viện kiểmsát, Toà án, thực hiện một công việc nào đó hứng tới mục đích làm lợi cho thân chủ. Trong phiêntoà, luật sư sử dụngchứng cứ để phản bác một phần hay toàn bộ quan điểm của bên đối lập, khẳngđịnh quan điểm của mình, đề nghị Viện kiểm sát rút một phần hay toàn bộ truy tố, đề nghị Toà ánáp dụng điều luật hoặc những biện pháp có tính chất tố tụng khác có lợi cho thân chủ của mình. Đểlàm tốt nhiệm vụ bào chữa của mình, Luật sư cần nắm vững các quy định của pháp luật có liênquan đến địa vị pháp lý của mình, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của người mà họ bào chữa cũngnhư nghĩa vụ của cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo. Không những thế, Luật sư còn phải nắm vững diễn biến của quá trình tố tụng để đảm bảo quá trình điều tra phải có căn cứ khách quan.Trong quá trình hoạt động thu thập chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng, luật sư có quyềngặp gỡ trao đổi, đề xuất với cơ quan Toà án, Viện kiểm sát nhằm: Khắc phục những thiếu sót trongđiều tra, truy tố; đảm bảo tính khách quan của hoạt động tố tụng; bảo vệ những quyền lợi hợp phápcủa thân chủ.Luật sư cũng có quyền trao đổi với Toà án và Viện kiểm sát những vấn đề vè thủ tục tố tụng vàchứng cứ của vụ án:Thứ nhất, về tố tụng: Luật sư trao đổi để làm rõ hồ sơ vụ án cần phải xem xét xem có đảm bảođúng thủ tục tố tụng hình sự hay không; có việc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hay không;có cần đề nghị thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn ; nhập hoặc tách vụ án hay không.Thứ hai, về chứng cứ: Đã có đủ chứng cứ để xét xử bị cáo chưa; nếu còn thiếu chứng cứ thì đó làchứng cứ quạn trọng hay không quan trọng đối với vụ án, có thể bổ sung tại phiên Tòa hay không;có đúng là bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội đã bị truy tố hay phạm một tội khác hoặc có ngườikhác cùng phạm tội với bị cáo.Trong quá trình tiếp xúc, trao đổi ấy, khi thấy có vi phạm về thủ tục tố tụng, không đảm bảo vềchứng cứ xét xử bị cáo thì Luật sư có thể gặp thẩm phán hoặc kiểm sát viên tại phòng làm việc củahọ để trao đổi. Trong tường hợp cần cung cấp thêm chứng cứ thì Luật sư chủ động cung cấp thêmchứng cứ của vụ án và trao đổi với Toà án và Viện kiểm sát. Như vậy, việc Luật sư chủ động xâmnhập thực tế vụ án sẽ nâng cao khả năng đạt được những kết quả có lợi hơn cho khách hàng củamình do việc tiếp cận với hồ sơ vụ án nói chung và chứng cứ nói riêng được trực tiếp và sát saohơn.Trong quá trình trao đổi, đề xuất với Viện kiểm sát, Tòa án thì thông thường Luật sư tập trungtrọng điểm vào những vấn đề sau:Thứ nhất, trong các trường hợp sau đây thì Luật sư yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung: Khi thấy hồsơ thiếu những chứng cứ quan trọng, nếu cứ xét xử thì dẫn đến oan sai hoặc làm cho bị cáo phạmtội nặng hơn; trường hợp bảo vệ cho người bị hại thì khi thấy có căn cứ cho rằng bị cáo phạm mộttội nặng hơn tội đã bị truy tố thì đề nghị trả hồ sơ để điều tra bổ sung thay đổi tội danh; khi thấy cóvi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho việc điều tra không chính xác ảnh hưởng đến quyềnlợi hợp pháp của thân chủ.Thứ hai, khi có các chứng cứ cho thấy thấy vụ án mà mình có trách nhiệm bảo vệ cho thân chủ nếuđược nhập vào trong một vụ án khác hoặc cần tách ra để xét xử sau là phù hợp với quy định của pháp luật thì đề nghị với Viện Kiểm sát hoặc Toà án giải quyết.Thứ ba, qua nghiên cứu thấy người làm chứng quan trọng có lời khai buộc tội bị cáo, nhưng lờikhai này có nhiều điểm chưa rõ hoặc có mâu thuân với chứng cứ khác trong vụ án, nếu người làmchứng này không có mặt trong phiên toà thì sự công bố lời khai của họ có thể ảnh hưởng đến sự

thật của vụ án, không có lợi cho thân chủ. Vì vậy Luật sư phải đề nghị Toà án cho triệu tập ngườilàm chứng này đến để xét hổi làm sáng tỏ sự thật của vụ án.Thứ tư, trong trường hợp nếu thấy việc tạm giam bị can bị cáo là không có căn cứ như tạm giam bịcan, bị cáo 15 tuôỉ phạm tội nghiêm trọng, tạm giam bị can, bị cáo 17 tuổi phạm tội nhgiêm trọngdo vô ý hoặc bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, khai báo thành khẩn, mắc bện nặng cần phải đượcchữa bệnh, việc tạm giam bị can, bị cáo không cần thiết nữa thì phải đề nghị với Toà án viện kiểmsát huỷ bỏ việc tạm giam trả tự do cho bị can, bị cáo. Nếu xét thấy cần thì đề nghị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác thay cho biện pháp tạm giam.Thứ năm, trong trường hợp nghi ngờ bị can, bị cáo đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bện khác làmmát khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của họ thì đề nghị Viện kiểm sát hoặcToà án ra quyết định trưng cầu giám định pháp y về năng lực chịu trách nhiệm hình sự của họ.Qua những nội dung trên để thấy, kỹ năng của luật sư trong việc đánh giá và nghiên cứu chứng cứcủa một vụ án hình sự là rất quan trọng. Nắm vững những yêu cầu và quy định của pháp luật đốivới việc thu thập, đánh giá và nghiên cứu chứng cứ sẽ giúp Luật sư thực hiện được tốt nhất vai tròcủa mình đối với khách hàng.Trong các kỹ năng của Luật sư khi được khách hàng mời tham gia ở các vụ án hình sự, việc nghiêncứu và đánh giá chứng có tác động lớn đến kết quả cuối cùng mà Luật sư đạt được; đồng thời manglại hiệu quả trong yêu cầu đối với khách hàng và đóng góp tích cực cho quá trình tiến hành tố tụngđược dân chủ, công bằng bảo đảm lợi ích hợp pháp cho thân chủ, góp phần hạn chế các vi phạm pháp luật, đảm bảo cho hoạt động điều tra được tiến hành khách quan toàn diện. Do đó, nếu trở thành người bảo vệ quyền lợi cho khách hàng trong các vụ án hình sự, là Luật sư, chúng ta cần bắttay ngay vào việc thu thập, tổng hợp, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ để mang lại hiệu quả caonhất như cách mà khách hàng chúng ta mong đợi.Kỹ năng của luật sư trong việc viết bài bào chữa, bảo vệ trong vụ án hìnhsựThứ ba, 28 12 2010 15:25

PHẦN THỨ 1:GIỚI THIỆU VỀ BÀI BÀO CHỮA, BÀI BẢO VỆ CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ

 I/-BÀI BÀO CHỮA, BÀI BẢO VỆ CỦA LUẬT SƯ.

 Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, thì Luật sư là người tham gia tố tụng trong một vụ ánhình sự với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệquyền lợi cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan đến vụ án hình sự.Hoạt động tố tụng hình sự là một hoạt động luật định, được diễn ra theo một trình tự thủ tục nhấtđịnh, từ giai đoạn trước đến giai đoạn sau, từ giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối, theo đúng các quyđịnh của Bộ luật tố tụng hình sự.

 Khi tham gia vào quan hệ pháp luật nói trên, dù là ngay từ khi nó mới vừa phát sinh hoặc là vàomột giai đoạn tố tụng cụ thể nào đó, thì những người tiến hành tố tụng và người người tham gia tốtụng cũng đều phải thực hiện những công việc tố tụng theo một trình tự nhất định, đúng với quyđịnh của pháp luật về tố tụng.Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành thì Luật sư có thể tham gia tố tụng ở vào bấtkỳ giai đoạn tố tụng nào của vụ án, tùy thuộc vào yêu cầu của thân chủ của mình hoặc cũng có thểtừ yêu cầu của chính các cơ quan tiến hành tố tụng.Tuy nhiên, có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, việc tham gia tố tụng của Luật sư vào giaiđoạn trước khi hoạt động xét xử được tiến hành, sẽ là hết sức quan trọng và có ý nghĩa rất to lớnđối với hoạt động hành nghề của Luật sư cũng như đối với mối quan hệ dịch vụ pháp lý mà Luật sưđã xác lập với thân chủ của mình.Có thể khẳng định như vậy là vì những lý do sau đây:Thứ nhất:Đây là giai đoạn tố tụng mà lần đầu tiên Luật sư được công khai phát biểu trình bày quan điểm củamình về vụ án, về việc VKS truy tố bị cáo, về tội danh và hình phạt mà VKS đề nghị áp dụng cho bị cáo, về hành vi phạm tội và hậu quả mà hành vi phạm tội gây ra cho người bị hại cũng như cho phía người bị hại, đồng thời nêu lên những quan điểm, những luận cứ, những tình tiết quan trọngcủa vụ án, để đối đáp tranh luận, nhằm bác bỏ hoặc ủng hộ quan điểm buộc tội của VKS đối với bịcáo, để đề xuất thay đổi tội danh, làm giảm nhẹ TNHS, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hoặc để buộc bị cáo phải bồi thường TNDS và khắc phục hậu quả mà bị cáo đã gây ra đối với bị hại hoặc phíangười bị hại. Nói một cách chung nhất là Luật sư phải làm sao để mang lại kết quả tốt nhất cho thân chủ củamình là bị cáo hoặc là người bị hại trong vụ án hình sự.Thứ hai:Trong tất cả các giai đoạn tố tụng, thì việc đưa ra xét xử của Tòa án chính là giai đoạn có sự xuấthiện đầy đủ nhất của những người người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trongcùng một vụ án hình sự. Ngoài ra, trong nhiều phiên tòa có tiếng vang và dư luận xã hội rộng lớn, có thể sẽ có đông đảoquần chúng nhân dân đến tham dự để theo dỏi trực tiếp việc xét xử vụ án, các cơ quan truyền thông báo chí cũng có thể đến để đưa tin.Vì vậy, hoạt động mang tính nghề nghiệp của Luật sư trong giai đoạn này là hết sức quan trọng.Luật sư sẽ có cơ hội để thể hiện kỹ năng hành nghề của mình, nếu thành công có thể sẽ gây tiếngvang lớn trong xã hội làm tăng uy tín nghề nghiệp của Luật sư đồng thời có tác động tích cực đếnhoạt động hành nghề của Luật sư trong việc thực hiện các dịch vụ pháp lý với thân chủ của Luật sưsau này.Thứ ba:Kết quả của hoạt động xét xử của Tòa án sẽ là một bản án mà Hội đồng xét xử thay mặt và nhândanh Nhà Nước tuyên án đối với thân chủ của Luật sư.Không phải chỉ có bản án tuyên thân chủ của Luật sư vô tội; không phải chỉ có bản án tuyên thânchủ của Luật sư có tội nhẹ hơn, TNHS ít hơn, hình phạt nhẹ hơn so với đề nghị truy tố của VKS;hoặc bản án tuyên bị cáo có tội đúng với tội danh và hình phạt, đồng thời buộc bị cáo phải bồithường TNDS một cách thích đáng để khắc phục hậu quả cho người bị hại, mới được xem là thànhcông của Luật sư và là niềm hạnh phúc của thân chủ của Luật sư. Ngay như một bản án mà Tòa đã tuyên, có tính bất lợi đối với thân chủ của Luật sư, đôi khi Luật sưcũng có thể nhận được sự cảm thông chia sẻ, thậm chí sự mang ơn từ chính thân chủ của mình. Bởivì Họ đã cảm nhận được năng lực thực sự của Luật sư, về công sức mà Luật sư đã làm và về trách

nhiệm nghề nghiệp mà Luật sư đã thể hiện đối với những yêu cầu của Họ.Sự đánh giá tốt của khách hàng đối với Luật sư bao giờ cũng là một chứng cứ hết sức quan trọngmang tính đánh giá nghề nghiệp và năng lực của Luật sư khi tham gia hoạt động tố tụng trong mộtvụ án hình sự.Hơn ai hết, Luật sư phải là người hiểu rõ việc tham gia vào giai đoạn xét xử tại tòa án là một hoạtđộng tố tụng hết sức quan trọng đối với việc hành nghề của mình và đối với chính hợp đồng dịchvụ pháp lý mà Luật sư đã xác lập với khách hàng của mình.Chính vì tính chất quan trọng như vậy, Luật sư cần phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho giai đoạn xétxử, mà quan trọng nhất, có thể nói là việc chuẩn bị bài bào chữa hoặc là bài bảo vệ cho thân chủcủa mình.Thế nào là bài bào chữa, bài bảo vệ?Bài bào chữa:Là văn bản viết của Luật sư trong đó nêu quan điểm của Luật sư về vụ án, về hoạt động tố tụng màcác cơ quan và người tiến hành tố tụng đã tiến hành, về quan điểm truy tố của VKS đối với thânchủ của Luật sư là bị cáo trong vụ án, về tội danh, về khung hình phạt mà VKS đề nghị, đồng thờiđưa ra những căn cứ để bác bỏ toàn bộ việc truy tố của VKS, hoặc để thay đổi sang tội danh kháccó TNHS và hình phạt nhẹ hơn, để không phải chịu hoặc làm giảm nhẹ TNDS đối với bị cáo.Bài bào chữa sẽ được Luật sư trình bày bằng cách đọc nguyên văn hoặc làm dàn ý để từ đó làm căncứ phát biểu ngay trong phần tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe vị đại diện VKS đọc bản luậntội.Bài bảo vệ:Cũng là một văn bản viết của Luật sư, tuy nhiên do thân chủ của Luật sư trong trường hợp này làngười bị hại hoặc là phía người bị hại (trong trường hợp người bị hại chết), là nguyên đơn dân sự,là bị đơn dân sự, là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự.Họ là những nạn nhân của hành vi phạm tội của bị cáo, là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quantrong vụ án, là người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra trong vụ án, cho nênnội dung và mục đích của bài bảo vệ ứng với từng đối tượng tham gia tố tụng cụ thể sẽ là rất khácso với bài bào chữa cho bị cáo.Trong nội dung bài bảo vệ, Luật sư cũng nêu quan điểm của mình về vụ án, về hoạt động tố tụngmà các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã tiến hành, về quan điểm truy tố của VKS đối với bịcáo trong vụ án, về tội danh, về khung hình phạt mà VKS đã đề nghị đối với bị cáo.Thông thường quan điểm của Luật sư là đồng tình với việc truy tố bị cáo của VKS.Tuy nhiên trong một số trường hợp, quan điểm của Luật sư có thể sẽ là không đồng tình với việctruy tố của VKS vì đã bỏ sót tội phạm và hình phạt.Thể hiện tất cả những vấn đề vừa nêu trên trong bài bảo vệ, mục đích của Luật sư là muốn khẳngđịnh bị cáo đúng là người phạm tội, giữa hành vi phạm tội của bị cáo và kết quả dẫn đến sự mấtmác, thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, bị cáo là người có lỗi cho nên bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường TNDS và khắc phục những hậu quả mà mình đã gây ra.Trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải gánh chịu là một việc đương nhiên theo quy định của pháp luật. Không một ai có thể yêu cầu hoặc đòi hỏi về hình thức, mức độ, biện pháp chế tài vềhình sự đối với người phạm tội ngoại trừ Viện Kiểm Sát Nhân Dân.Trách nhiệm dân sự của bị cáo trong việc bồi thường tổn thất về vật chất cũng như tinh thần chokhách hàng của Luật sư, mới chính là mục đích mà Luật sư bảo vệ cho người bị hại và phía người bị hại hướng đến.Cũng giống như bài bào chữa, bài bảo vệ sẽ được Luật sư trình bày bằng cách đọc nguyên văn hoặclàm dàn ý để từ đó làm căn cứ phát biểu ngay trong phần tranh luận tại phiên tòa, sau khi vị đại

diện VKS đọc bản luận tội.

II/-BÀI BÀO CHỮA, BÀI BẢO VỆ LÀ MỘT TÀI LIỆU QUAN TRỌNG KẾT TINH CÔNGSỨC VÀ KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ.

 Bài bào chữa, bài bảo vệ trước hết thể hiện kỹ năng viết của Luật sư. Nhưng để viết được một tàiliệu có tính chặt chẽ, ngắn gọn, đầy đủ nội dung, có văn hóa, có trí tuệ, có căn cứ xác đáng và cótính thuyết phục cao như vậy, Luật sư còn phải vận dụng những kỹ năng khác trong hoạt độngnghề nghiệp của Luật sư.Có kỹ năng hành nghề tốt, Luật sư còn phải có một nền tảng kiến thức khoa học về pháp lý vữngvàng. Kiến thức về pháp luật có thể giúp cho Luật sư nhìn nhận một vấn đề pháp lý có tính khoahọc và có căn cứ, từ đó thể hiện quan điểm của mình, đề xuất những ý kiến pháp lý quan trọngtrong bài bào chữa và bài bảo vệ. Nếu không có đạo đức nghề nghiệp, nếu không yêu quý công việc của mình, nếu không thật sự tôntrọng những cam kết mang tính công việc đối với khách hàng, nếu không có tinh thần trách nhiệmcao, thì cũng khó có được một kết quả tốt đẹp cho bài bào chữa, bài bảo vệ của Luật sư.Vì vậy có thể nói rằng: Bài bào chữa hay bài bảo vệ của các Luật sư, đều là những tài liệu quantrọng, kết tinh công sức của các luật sư, thể hiện kết quả của một quá trình tích cực nghiên cứu khaithác để tìm ra những tình tiết, chứng cứ cần thiết phục vụ cho nhu cầu mục đích cho việc bào chữa, bảo vệ thân chủ của mình.

PHẦN THỨ 2KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ KHI CHUẨN BỊ BÀI BẢO VỆ CHO NGƯỜI BỊ HẠITRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ

Trong nội dung của bài tiểu luận này, chúng ta sẽ chỉ đề cập đến “Bài Bảo Vệ Cho Người Bị Hại”của Luật sư trong vụ án hình sự mà thôi.Để làm rõ những nội dung có liên quan trong bài bảo vệ, chúng ta cùng nghiên cứu các khái niệmcũng như các vấn đề sau đây:

I/-NGƯỜI BỊ HẠI –NGƯỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI BỊ HẠI (NĐDHPCNBH):

Điều 51 BLTTHS đã định nghĩa về “Người bị hại” như sau:10. Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra.20. Người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền:a)-Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; b)-Được thông báo về kết quả điều tra;c)-Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định củaBộ luật này;d)-Đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường;đ)-Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;e)-Khiếu nại quyết định; hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi thường cũng như hình phạt đối với bị cáo.30. Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 105 củaBộ luật này thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiêntòa.40. Người bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án; nếu từchối khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308của Bộ luật hình sự.50. Trong trường hợp người bị hại chết thì người đại diện hợp pháp của họ có những quyền quy

 

 

định tại điều này.Theo thói quen đôi khi chúng ta thường hay sử dụng thuật ngữ “Phía Người Bị Hại” để chỉ “NgườiĐại Diện Hợp Pháp Của Người Bị Hại” trong trường hợp người bị hại đã chết trong vụ án.

II/-NHỮNG YÊU CẦU BỒI THƯỜNG TỪ NGƯỜI BỊ HAI VÀ NĐDHPCNBH

.Trong một vụ án hình sự, người bị hại là người đã có thiệt hại:-Về mặt thể chất: có nghĩa rằng họ có thể đã bị mất đi mạng sống của mình, tổn thương sức khỏedo bị thương tật một cách tạm thời hay vĩnh viễn;-Về mặt tinh thần: có nghĩa rằng họ đã có sự tổn thất về danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc suy sụpvề tâm lý, tình cảm của cá nhân;-Về tài sản: có nghĩa rằng họ đã bị chiếm đoạt, bị mất mác, các vật có giá trị bằng tiền và là đốitượng của quyền tài sản và các lợi ích vật chất khác.(Khái niệm về tài sản là một khái niệm rất rộng, chúng ta cũng cần phải hiểu rõ khái niệm đó đướigóc độ pháp lý để nắm bắt vấn đề một cách chính xác). Những thiệt hại nói trên là do tội phạm gây ra.Luật cũng đã quy định, người bị hại được quyền đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảmcho việc bồi thường.Thông thường trong vụ án hình sự, người bị hại hoặc người ĐDHPCNBH yêu cầu được bồi thườngvề tài sản, về thể chất và về mặt tinh thần, mà họ đã bị thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gâyra.Thiệt hại về mặt thể chất, thiệt hại về mặt tài sản là có thể xác định dễ dàng thông qua việc giámđịnh thương tật của các cơ quan chức năng có thẩm quyền cũng như thông qua việc xác định vàđánh giá thực tế.Thiệt hại về mặt tinh thần là không đơn giản để xác định mức độ thiệt hại và đánh giá trị để bồithường, bởi vì trên thực tế không có tiêu chí chung về mặt tinh thần để xác định cho mỗi cá nhân bởi điều kiện, hoàn cảnh của từng cá nhân là khác nhau.Bên cạnh các yêu cầu đó, các biện pháp bảo đảm cho việc bồi thường cũng là rất cần thiết và có ýnghĩa đối với người bị hại nhất là trong trường hợp việc bồi thường có tính lâu dài trong một thờigian nhất định.Cũng cần nói thêm rằng, việc yêu cầu được bồi thường của người bị hại là quyền chứ không phải lànghĩa vụ. Cho nên trong nhiều trường hợp người bị hại cũng có thể từ chối quyền của mình bằnghành vi không yêu cầu và không đề nghị mức bồi thường.Tất nhiên, ngoại trừ những yêu cầu mang tính không tưởng, phi thực tế và thiếu căn cứ sẽ khôngđược chấp thuận, thì không phải bất cứ yêu cầu yêu cầu bồi thường nào, với mức độ nào, biện pháp bảo đảm nào, của người bị hại cũng đều được Hội đồng xét xử chấp thuận.Bên cạnh đó các Luật sư bào chữa của bị cáo ngay tại phiên tòa cũng luôn có xu hướng đề nghị Hộiđồng xét xử giảm nhẹ TNDS của bị cáo trong vụ án.Vì vậy, việc bảo vệ quyền lợi của người bị hại trong vụ án hình sự là một nhiệm vụ không dễ dàngvà là một hoạt động nghề nghiệp có tính kỹ năng cao của L.sư.

III/-KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VIỆC CHUẨN BỊ BÀI BẢO VỆ CHO NGƯỜI BỊ HẠI

:1/-Mục đích, yêu cầu của việc viết bài bảo vệ:a)-Mục đích:Mục đích viết bài bảo vệ là giúp cho Luật sư có điều kiện xem lại các tài liệu đã thu thập, ghi chépđược, nhờ đó mà hiểu thấu đáo hơn về nội dung vụ án. Khi viết cũng là lúc Luật sư cân nhắc đánggiá từng tài liệu, tình tiết, so sánh, đối chiếu và tổng hợp các chứng cứ, để phát hiện và sử dụngđược các chứng cứ có lợi, bác bỏ những chứng cứ bất lợi cho thân chủ

 Trên cơ sở phân tích và tổng hợp các chứng cứ, Luật sư đưa ra các quan điểm bảo vệ sẽ toàn diện và không bỏ sót những vấn đề quan trọng.Bài bảo vệ được chuẩn bị kỹ lưỡng, sắp xếp các luận cứ một cách lô gíc, khoa học, là tài liệu cầnthiết để Luật sư sử dụng trong lúc bảo vệ. Nhờ có dàn ý đã được chuẩn bị, Luật sư trình bày cácvấn đề có trọng tâm, không bị bỏ sót và cũng không mang tính dàn trãi tràn lan. Nếu Luật sư chỉ tin vào trí nhớ và tài hùng biện của mình mà không chuẩn bị bài bảo vệ, thì cónhiều trường hợp vì quá say sưa trình bày về một vấn đề nào đó mà quên mất các vấn đề quantrọng khác cần phải được trình bày. Sau khi bảo vệ xong mới phát hiện ra là còn thiếu thì rất nuốitiếc.Trong thực trạng xét xử hiện nay, vấn đề thư ký phiên tòa ghi chép lại toàn bộ diễn biến của phiêntòa cũng chỉ mang tính thủ tục là chính. Nếu sau khi trình bày bài bảo vệ Luật sư gửi tài liệu đóluôn cho thư ký phiên tòa sẽ là một hành động khôn ngoan và là một kỹ năng nghề nghiệp của Luậtsư.Vì vậy trong mọi trường hợp Luật sư cần thiết phải chuẩn bị bài bảo vệ. b)-Yêu cầu:Để có một bài bảo vệ đạt chất lượng, khi chuẩn bị viết, Luật sư cần phải quán triệt các yêu cầu sau:-Bài bảo vệ phải có bố cục chặt chẽ, được viết ngắn gọn, rõ ràng, súc tích;-Những vấn đề cần bảo vệ phải được ghi thành đề mục và sắp xếp chúng theo một thứ tự hợp lý;-Các tài liệu, số liệu được sử dụng phải chính xác, bảo đảm độ tin cậy;-Các quan điểm đề xuất phải rõ ràng, không lập lờ nước đôi, không đổ lỗi, đổ tội cho người khácđể có lợi cho người mình bảo vệ, không bênh vực quyền lợi cho thân chủ của mình mà làm ảnhhưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.2/-Những công việc chuẩn bị để viết bài bảo vệ:a)-Tổng hợp các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được:Để viết bài bảo vệ, Luật sư phải chuẩn bị các loại tài liệu. Những loại tài liệu này gồm:-Tài liệu, chứng cứ thu thập được từ việc nghiên cứu hồ sơ vụ án:+Các lời khai nhận tội của bị cáo;+Những lời khai chối tội của bị cáo nhưng rất mâu thuẫn với các chứng cứ khác của vụ án;+Những lời khai buộc tội bị cáo của những người làm chứng, người bị hại;+Các tài liệu xác định vật chứng của vụ án;+Các tài liệu về chứng thương, giám định;+Các tài liệu chứng minh yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại như chứng từ, hóa đơn, biên nhận…-Các tài liệu, chứng cứ mới được thu thập bổ sung:+Các tài liệu ghi chép được khi Luật sư gặp bị can, bị cáo;+Các tài liệu Luật sư thu thập được từ việc tiếp xúc với thân nhân gia đình người bị hại…-Các tài liệu và văn bản pháp luật có liên quan:+Bộ luật hình sự;+Bộ luật tố tụng hình sự;+Nghị quyết của HĐTP TANDTC, Nghị định chính phủ, Thông tư liên tịch, và các văn bản dướiluật khác có liên quan đến việc bảo vệ của Luật sư. b)-Đánh giá phân tích tài liệu, chứng cứ:Là người bảo vệ cho quyền lợi của người bị hại, Luật sư phải nghiên cứu các tài liệu và chứng cứnói trên, để đánh giá và phân tích, từ đó đưa ra những kết luận về những nội dung, tình tiết có lợicho thân chủ của mình, như là:-Xác định hành vi phạm tội của bị cáo, xác định tội danh và khung hình phạt cho bị cáo

-Xác định những thiệt hại thực tế đã xảy ra;-Xác định những tình tiết thể hiện việc yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của người bị hại hoặcngười ĐDHPCNBH là hợp lý, đúng đắn, chính xác và có căn cứ.3/-Xác định định hướng viết bài bảo vệ:a)-Xác định hình thức viết:Tùy thuộc vào tính chất của vụ án là phức tạp hay đơn giản, số lượng bị cáo nhiều hay ít, các tàiliệu chứng cứ trong vụ án là đầy đủ hay con thiếu, phù hợp hay có mâu thuẩn với nhau, bị cáo nhậntội hay không nhận tội… mà bài bảo vệ của Luật sư cần được viết chí tiết hay chỉ ở dạng dàn ý vànó được gửi đến Tòa án để Tòa án có điều kiện xem xét kỹ từng tình tiết nội dung yêu cầu củangười bị hại mà Luật sư nêu ra hay chỉ là tài liệu mà Luật sư sẽ sử dụng tại tòa.Trong trường hợp cần gửi trước cho HĐXX thì Luật sư bắt buộc phải viết hoàn chỉnh bài bảo vệ. b)-Xác định định hướng bảo vệ:Đây là công việc khá phức tạp của Luật sư, là một bài toán quan trọng mà Luật sư phải có một lờigiải hợp lý đúng đắn khẳng định sự thành công hay thất bại của Luật sư trong vụ án.Tùy thuộc vào chứng cứ của vụ án và việc Luật sư phải bảo vệ cho đương sự nào trong vụ án màLuật sư xác định định hướng bảo vệ cho phù hợp. Nếu bảo vệ cho người bị hại, Luật sư phải xác định định hướng bảo vệ theo hướng làm rõ TNHScủa bị cáo, trên cơ sở đó mới yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại một cách chính xác đầy đủ chothân chủ của mình.Việc làm rõ TNHS của bị cáo có thể theo hướng đề nghị tăng nặng TNHS như yêu cầu xem xétkhung hình phạt khác nặng hơn, trả hồ sơ điều tra bổ sung để truy tố theo tội danh khác nặng hơn,nếu thấy cáo trạng truy tố không đúng.Trong nhiều trường hợp, định hướng bảo vệ sẽ theo hướng công nhận cáo trạng truy tố đúng người,đúng tội, nên buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà bị cáo đã gây ra cho người bịhại.Định hướng bảo vệ phải dứt khoát rõ ràng thống nhất từ đầu đến cuối không lưng chừng khậpkhểnh nước đôi.4/-Cơ cấu bài bảo vệ:Bài bảo vệ phải có cơ cấu thống nhất với nhau và gồm ba phần: Phần mở đầu; Phần nội dung vàPhần kết luận.a)-Phần mở đầu:-Giới thiệu: Luật sư tự giới thiệu về mình, về cơ sở hành nghề luật sư, về Đoàn luật sư mà mìnhđăng ký hoạt động nghề nghiệp luật sư.-Lý do tham dự phiên tòa: Luật sư nêu lý do và căn cứ mà mình tham gia phiên tòa. b)-Phần nội dung:-Phân tích TNHS của bị cáo:+Nếu VKS truy tố đúng người đúng tội, đúng với nhận định phân tích của Luật sư thì Luật sư cũngcần phải nêu ý kiến, đề nghị HĐXX chấp nhận việc truy tố của VKS.+Nếu VKS truy tố chưa đúng người đúng tội, chưa đúng với phân tích của Luật sư thì Luật sư cũng phải nêu quan điểm của mình, nếu cần thiết thì đề nghị trả hồ sơ để điều tra bổ sung.-Phân tích TNDS của bị cáo:+Phân tích chứng minh thiệt hại của thân chủ là có thật, do chính hành vi của bị cáo gây ra, hành vicủa bị cáo là hành vi trái pháp luật.+Việc yêu cầu bồi thường của người bị hại là có căn cứ.c)-Phần kết luận:-Tóm tắt lại những nội dung chính đã trình bày, không cần thiết phải lập lại toàn bộ nội dung, nội dung lập lại phải không mâu thuẫn với nội dung đã trình bày;-Đưa ra những đề xuất cụ thể về cách giải quyết vụ án theo hướng có lợi nhất cho thân chủ củamình với Hội đồng xét xử.

PHẦN THỨ 3:PHẦN KẾT LUẬN

Tóm lại, “Bài bảo vệ cho người bị hại” của Luật sư trong vụ án hình sự là một văn bản được sửdụng trong phần tranh luận tại phiên tòa với mục đích nhằm bảo vệ quyền lợi của người bị hạitrong chính vụ án hình sự đó.Bài bảo vệ là một tài liệu quan trọng kết tinh công sức của Luật sư. Thể hiện kết quả của một quátrình tích cự nghiên cứu, khai thác, đánh giá, phân tích hồ sơ tài liệu của vụ án, để tìm ra nhữngnhững tình tiết, những chứng cứ quan trọng cần thiết phục vụ cho việc bảo vệ quyền lợi của người bị hại là thân chủ của Luật sư trong vụ án.Với nội dung và tính chất quan trọng như vậy, Luật sư cần phải có sự đầu tư đúng mức và chuẩn bịkỹ lưỡng cả về nội dung và hình thức cho bài bảo vệ.Việc chuẩn bị bài bảo vệ và thực hiện nó một cách hoàn chỉnh, hiệu quả, cũng chính là một phầntrong hệ thống kỹ năng trong hoạt động nghề nghiệp của Luật sư.Cuối cùng, do thời gian để viết bài tiểu luận này là không nhiều, bên cạnh đó lịch học, lịch thi, lịchdiễn án của Học viện tư pháp là khá dầy đặt cho lớp đào tạo nghề luật sư tại HVTP, cho nên nhữngnội dung mang tính kỹ năng viết bài bảo vệ cho người bị hại, của Luật sư trong vụ án hình sự màtôi vừa nêu ở trên, chỉ mang tính mô tả là chủ yếu

Hỗ trợ trực tuyến
Luật Sư Hoài
Luật Sư Hoài
0918 368 772
Luật Sư Tuấn
Luật Sư Tuấn
0985 928 544
Tư vấn Viên 24/7
Tư vấn Viên 24/7
0936 883 990
Thông tin liên hệ

Hà Nội:

Địa chỉ: Số 9,Ngách 6A ,Ngõ 6 ,Đường Phạm Văn Đồng ,Q.Cầu Giấy,TP.Hà Nội .

Email: hanoi@newvisionlaw.com.vn

Điện thoại:  0985 928 544( Luật sư Tuấn )

TP. Hồ Chí Minh

Địa chỉ: Số 52C Nguyễn Thị Huỳnh, Phường 11, Q.1, HCM

Email: contact@newvisionlaw.com.vn

Điện thoại: 0918 368 772 ( Luật sư Thảo )

Đối tác : dịch vụ làm báo cáo tài chính cuối năm,  dich vu kiem toan noi bo,dich vu bao cao thue tai ha noi, in hoa don gtgt

 

 

Các tin mới nhất
Cấp giấy phép đưa người lao động  đi làm việc ở nước ngoài Cấp giấy phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
Việc cần làm trước khi đăng ký nhãn hiệu Việc cần làm trước khi đăng ký nhãn hiệu
Yêu cầu thi hành án đối với mảnh đất sở hữu chung Yêu cầu thi hành án đối với mảnh đất sở hữu chung
Hành vi đánh người gây thương tích bị truy cứu hình sự về tội gì? Hành vi đánh người gây thương tích bị truy cứu hình sự về tội gì?
Chia tài sản khi bà mất không để lại di chúc Chia tài sản khi bà mất không để lại di chúc
Các tổ chức chưa đăng ký đất đai sẽ bị xử phạt Các tổ chức chưa đăng ký đất đai sẽ bị xử phạt
Hợp đồng mua bán nhà viết tay có giá trị pháp lý không Hợp đồng mua bán nhà viết tay có giá trị pháp lý không
Ai nhắn tin đe dọa chủ tịch tỉnh Bắc Ninh Ai nhắn tin đe dọa chủ tịch tỉnh Bắc Ninh
 Lãnh đạo tỉnh bắc ninh bị nhắn tin đe dọa Lãnh đạo tỉnh bắc ninh bị nhắn tin đe dọa
Doanh nghiệp không cho ký hợp đồng dài hạn Doanh nghiệp không cho ký hợp đồng dài hạn
Tử tù có được phép kết hôn Tử tù có được phép kết hôn
bbb bbb
Tử tù có được phép ​kết hôn hay không Tử tù có được phép ​kết hôn hay không
Bàn về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Việt Nam và trên thế giới Bàn về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Việt Nam và trên thế giới
                                                                                Tranh chấp quyền sử dụng đất Tranh chấp quyền sử dụng đất
© Copyright 2014 Newvision. All rights reserved. Developed by Livesoft